Từ chống chịu đến đột phá tăng trưởng

Thứ bảy, 26/09/2026, 19:42

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28-8-2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã vạch ra những định hướng chiến lược mang tính đột phá. Nhìn từ ĐBSCL, các mục tiêu và giải pháp mang tính mở đường này được kỳ vọng tạo bệ phóng giúp vùng gỡ bỏ các điểm nghẽn, hướng tới tăng trưởng xanh và thích ứng dài hạn.

Trong giai đoạn mới ĐBSCL tiếp tục giữ vị trí chiến lược đặc thù về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở tỉnh An Giang.

Nghị quyết số 27-NQ/TW mở ra tư duy mới, cơ cấu lại không gian phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng và tối ưu hóa nguồn lực quốc gia. Nhìn lại thực tiễn hơn 3 năm triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII cho thấy, dù liên kết vùng đã có bước chuyển và tiềm năng từng bước được phát huy, nhưng phát triển vùng nhìn chung vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Không gian phát triển vẫn còn phân tán, thể chế phối hợp chưa thực chất, quy hoạch chồng lấn, hạ tầng thiếu đồng bộ và vẫn là điểm nghẽn lớn cản trở sự bứt phá. Trong bức tranh tổng thể này, ĐBSCL giữ vị trí chiến lược đặc thù về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế sinh thái và giữ vững chủ quyền biển, đảo. Định vị ĐBSCL trong không gian kinh tế thống nhất của đất nước vừa là lời giải cho những điểm nghẽn nội tại, vừa trao cho vùng động lực vươn lên thành cực tăng trưởng bền vững.

Tầm nhìn cho ĐBSCL trong giai đoạn mới được cụ thể hóa bằng hệ thống mục tiêu phát triển kinh tế vừa mang tính đột phá, vừa bảo đảm tính khả thi. Nghị quyết định hướng tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của vùng đạt từ 9-9,5%/năm, nâng GRDP bình quân đầu người lên 6.610 USD. Cơ cấu kinh tế được định vị chuyển dịch theo hướng hiện đại, giảm dần sự phụ thuộc vào nông nghiệp truyền thống: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 26-27%; công nghiệp và xây dựng vươn lên 29-30%; khu vực dịch vụ khẳng định vai trò trụ cột với 43-44%. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo - mắt xích quan trọng để gia tăng chuỗi giá trị nông sản vùng đồng bằng - dự kiến chiếm 23-24% GRDP. Cùng với đó, kinh tế số được xác lập là động lực tăng trưởng mới với tỉ trọng đóng góp từ 25-30% GRDP, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp 45%, tốc độ tăng năng suất lao động đạt 8,0%/năm và tỷ lệ đô thị hóa đạt 42%. Những định hướng này thể hiện rõ quyết tâm đưa ĐBSCL chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình phát triển chiều sâu, dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn.

Một trong những giải pháp mang tính mở đường được Nghị quyết số 27-NQ/TW chỉ rõ là tháo gỡ dứt điểm nút thắt về hạ tầng kỹ thuật và nâng cao năng lực chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu. Vùng ĐBSCL và các đô thị ven biển được định hướng xây dựng chương trình, tiêu chuẩn chống chịu riêng biệt, kết hợp hài hòa giữa các công trình kỹ thuật kiên cố với giải pháp hạ tầng tự nhiên. Vấn đề quản trị tài nguyên nước phải chuyển mạnh sang thế chủ động thông qua xây dựng hệ thống điều hành trên cơ sở dữ liệu thời gian thực, vận hành liên kết chặt chẽ mạng lưới hồ chứa, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, phòng chống ngập úng và kiểm soát xâm nhập mặn. Đồng thời, khắc phục hạn chế chi phí lưu thông hàng hóa, hạ tầng giao thông vùng được định hướng ưu tiên phát triển mạng lưới vận tải đường thủy thành phương thức vận chuyển chủ yếu. Việc phát huy tối đa mạng lưới sông ngòi, kênh rạch để tối ưu hóa chuỗi dịch vụ logistics đa phương thức trực tiếp giúp hạ giá thành sản phẩm, gia tăng năng lực cạnh tranh cho nông, thủy sản vùng trên thị trường quốc tế.

Cùng với tăng trưởng kinh tế, thước đo quan trọng cho sự phát triển của ĐBSCL trong không gian quốc gia mới là chất lượng cuộc sống của người dân và an toàn sinh thái. Nghị quyết đề ra các chỉ tiêu an sinh xã hội bao trùm và nhân văn: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống dưới 2%, bảo đảm bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, 100% người dân được tiếp cận chính sách khám sức khỏe định kỳ hằng năm và nâng tỷ lệ y tế lên mức 15 bác sĩ trên một vạn dân. Tuổi thọ trung bình của người dân đồng bằng đạt 75,5 tuổi, với số năm sống khỏe đạt 68 năm, đưa chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức 0,75-0,78. Về nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ phải đạt 25-30% nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và công nghiệp hóa. Đi đôi với định hướng xây dựng nông thôn mới với 50% số xã đạt chuẩn (trong đó 10% đạt chuẩn hiện đại), yêu cầu gìn giữ môi trường được đặt ra nghiêm ngặt với việc duy trì tỷ lệ che phủ rừng ở mức 7,5% và 100% khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn.

Hiện thực hóa toàn diện những định hướng chiến lược theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, điều kiện tiên quyết là đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị và cơ chế liên kết vùng. Cần thay đổi căn bản tư duy phát triển: chuyển từ cách tiếp cận dựa chủ yếu vào nguồn lực sẵn có sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt, kích hoạt tối đa các nguồn lực xã hội thông qua các mô hình đối tác công - tư (PPP). Đổi mới mô hình tổ chức và nâng cao hiệu lực thực chất của Hội đồng điều phối vùng, lấy quy hoạch vùng làm cơ sở pháp lý tối cao trong phân bổ nguồn lực sẽ khắc phục tình trạng liên kết hình thức, chia cắt cục bộ. Với thể chế thông suốt, hạ tầng thích ứng và nguồn lực được khơi thông, ĐBSCL không chỉ giữ vững vai trò là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà sẽ tự tin vươn lên thành một không gian kinh tế mở, hiện đại và phát triển bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Bài và ảnh: HÀ TRIỀU