Quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị phải gắn liền với bảo vệ môi trường

Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản… đang gây ô nhiễm nguồn nước ở ĐBSCL, gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất, sức khỏe và đời sống người dân. Xoay quanh vấn đề này, ông Phạm Đình Đôn, Chi cục Trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực Tây Nam Bộ, cho biết:

- Nguồn nước mặt trên sông Tiền, sông Hậu và các nhánh sông ở ĐBSCL vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa có sự biến đổi theo chiều hướng gia tăng ô nhiễm hữu cơ và quá trình lan truyền phèn, nhiễm mặn. Quan trắc môi trường nước mặt trên sông Tiền, sông Hậu, các nhánh sông trong lưu vực và trên các cửa sông thông ra biển... cho thấy có dấu hiệu ô nhiễm với các chỉ tiêu: BOD, COD, Coliform, H2S, NH4, phèn sắt, nhiễm mặn... Dấu hiệu ô nhiễm xuất hiện khá rõ nét ở nơi gần nguồn xả nước thải của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị dân cư tập trung, vùng canh tác nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng canh tác nông nghiệp sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.

* Ông có thể nói cụ thể hơn về sự ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai thác nước ngầm đối với nguồn nước ở ĐBSCL?

- Hằng năm, nguồn nước mặt trên các sông ngòi, kênh rạch lớn nhỏ ở ĐBSCL đang gồng mình gánh chịu hàng chục ngàn tấn nước, rác thải, hóa chất độc hại từ sản xuất nông, công nghiệp, sinh hoạt... Có thể thống kê vài con số tiêu biểu để thấy rõ điều đó: tổng lượng nước thải sinh hoạt ở nông thôn khoảng 38,3 triệu m3/năm; rác thải sinh hoạt là 12,7 triệu m3/năm; chất thải trong giết mổ gia súc gia cầm 199.100 tấn/năm; chất thải rắn công nghiệp nguy hại 2.000 tấn/năm; tổng lượng nước thải sản xuất công nghiệp 47,2 triệu m3/năm; chất thải y tế 3.800 tấn/năm; chất thải nguy hại 1.500-2.400 tấn/năm; chất thải nuôi trồng thủy sản 456 triệu m3/năm; lượng phân bón hóa học được sử dụng hàng năm trên 2 triệu tấn; 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và các chế phẩm nuôi trồng thủy sản... Đáng chú ý là hầu hết các chất thải này chưa được xử lý triệt để, gây áp lực nhiều mặt đến ô nhiễm môi trường và sức khỏe của nhân dân.

Việc khai thác và sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt đời sống, sản xuất công nghiệp... chưa được kiểm soát chặt chẽ làm sụt giảm mực nước ngầm ở một số nơi, nhiễm bẩn tầng nước ngầm, xâm nhập mặn, nhiễm phèn... Tại ĐBSCL đã phát hiện sự hiện diện của kim loại nặng Asen (thạch tín) trong nước ngầm ở một số tỉnh, thành như: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ...

Ô nhiễm môi trường nước không những làm suy giảm chất lượng môi trường, các hệ sinh thái mà còn gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản. Chẳng hạn, làm suy giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng như: dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, dịch bệnh ở tôm cá gây chết hàng loạt... Nguồn nước bị ô nhiễm cũng tác động rất lớn đến sức khỏe con người. Đặc biệt, các bệnh về đường tiêu hóa, nhiễm độc hóa chất, ngộ độc thực phẩm, bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh giun sán, bệnh phụ khoa, bệnh suy dinh dưỡng trẻ em... gia tăng, đe dọa sức khỏe và tính mạng của người dân.

 

* Thưa ông, thực trạng hiện nay của nguồn nước trên dòng Mê Công như thế nào?

Một trong số con kênh trong nội ô (ở phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) bị lấp vì... rác.
Ảnh: B.NG.

- Các công trình thủy điện ở các nước đầu nguồn sông Mê Công làm suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên nước sông Mê Công đổ về ĐBSCL. Đồng thời, làm suy giảm nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái ven sông, tính đa dạng sinh học và môi trường trong khu vực, làm cạn kiệt nguồn phù sa màu mỡ đổ về hạ lưu, làm suy giảm khả năng canh tác vùng hạ lưu do thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn gia tăng... Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Bên cạnh đó, việc biến đổi khí hậu làm nước biển dâng cao làm quá trình xâm nhập mặn càng lan rộng và ngập sâu đe dọa nghiêm trọng đến sự đa dạng, phong phú và dồi dào vốn có của ĐBSCL.

 

* Làm thế nào để gìn giữ, bảo vệ nguồn nước sông Mê Công, thưa ông?

- Sông Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua lãnh thổ 6 nước: Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Vì vậy, sự gắn kết trách nhiệm giữa Chính phủ các nước về hợp tác nhằm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên nước và các nguồn tài nguyên khác liên quan đến toàn lưu vực sông là vô cùng quan trọng. Hiện nay, các nước và các tổ chức quốc tế đang tiếp tục thuyết phục một số nước bỏ kế hoạch xây dựng các đập thủy điện trên dòng chảy chính của sông Mê Công. Song song đó, cũng tìm các giải pháp cung cấp năng lượng điện thay thế có tính bền vững hơn. Các nước trong khu vực sẽ thiết lập những vành đai và khu vực bảo vệ sự đa dạng sinh học nhằm duy trì các hệ sinh thái, đảm bảo sử dụng nguồn tài nguyên chung một cách bền vững và cải thiện đời sống của nhân dân trong toàn lưu vực trong quá trình phát triển chung.

* Sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển. Cần làm gì để hạn chế ô nhiễm nguồn nước nói riêng và ô nhiễm môi trường nói chung do sản xuất gây ra, thưa ông?

- Hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường. Các doanh nghiệp có trách nhiệm to lớn trong công tác BVMT trong quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của mình. Doanh nghiệp cần phải có hệ thống kết cấu hạ tầng, phương tiện thu gom và xử lý nước thải, chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường quy định; có biện pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải, nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường, nhất là bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí thải, hơi, khí độc hại ra môi trường. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải hạn chế tiếng ồn, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động. Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với cơ sở sản xuất có sử dụng hóa chất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ.

Ô nhiễm môi trường, trong đó có vấn đề ô nhiễm nguồn nước và biến đổi khí hậu đang là vấn đề chung của cả nước và quốc tế. Theo tôi, để đảm bảo yêu cầu BVMT trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa theo định hướng phát triển bền vững, cần tập trung các vấn đề chính sau:

Một là, tập trung làm tốt công tác quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu đô thị dân cư, canh tác nông - lâm - ngư, để phát triển nền kinh tế, xã hội địa phương gắn liền với quy hoạch, BVMT một cách bền vững.

Hai là, nâng cao năng lực thẩm định các dự án đầu tư và báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lập và thẩm định đánh giá tác động môi trường. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các vi phạm trong lĩnh vực BVMT.

Ba là, tăng cường vai trò quản lý nhà nước về BVMT của chính quyền các cấp, ngành chức năng, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư trong việc thực thi luật BVMT. Kiên quyết xử lý triệt để các hình thức vi phạm nghiêm trọng Luật BVMT. Nâng cao nhận thức BVMT cho các chủ đầu tư và chủ doanh nghiệp.

Bốn là, xây dựng các chính sách ưu đãi vốn đầu tư cho doanh nghiệp có đầu tư hệ thống công nghệ xử lý môi trường, hỗ trợ các vấn đề chuyển giao công nghệ, lựa chọn công nghệ xử lý môi trường,...

Năm là, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục về BVMT, làm cho các tổ chức, cá nhân nhận thức sâu sắc trách nhiệm và nghĩa vụ BVMT trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

* Xin cảm ơn ông!

BĂNG TÂM (Thực hiện)