Những người thương binh "tâm sáng, tim hồng"...

Họ là những thương binh (TB) sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, kiên cường chiến đấu, không nề gian khổ, hy sinh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Và, khi trở về với cuộc sống đời thường, vẫn không mỏi gối chồn chân, góp công sức xây dựng quê hương giàu đẹp. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tinh thần lạc quan cách mạng, tin tưởng vào tương lai, tiền đồ của đất nước, trong đó có thế hệ con cháu của mình...

1. Chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Minh Châu, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (CCB) phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TB loại 4/4 ở khu vực 5, vào một buổi trưa yên ắng. Ông Châu cho biết: Hôm nay, 2 hội viên Hội CCB ở khu vực 1 và khu vực 4 có hoàn cảnh khó khăn, thường xuyên đau ốm, đi lại khó khăn được tặng xe lăn. Hội CCB phường Bình Thủy vừa thống nhất trích 10 triệu đồng từ Quỹ hội đóng góp xây dựng nhà tình đồng đội (trị giá 20 triệu đồng/căn) cho hội viên Trần Công Bình, ở khu vực 7, gặp khó khăn về nhà ở...

 Ông Châu trước tượng đài kỷ niệm Nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương, trong chuyến thăm Côn Đảo.

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Thanh Hóa, sớm mồ côi mẹ, từ nhỏ, ông Châu đã phải đi ở đợ. Năm ông 15 tuổi, người chú đưa về nhà, cho đi học đến hết cấp II (lớp 7). Thời gian này, ông lập gia đình với người cùng quê là bà Đổng Thị Chân. Sau đó, ông Châu tình nguyện vào bộ đội và bặt tin gia đình. Ông được đào tạo chuyên ngành kỹ thuật ở Trường sĩ quan Hải quân và tham gia Đoàn tàu không số, chuyên chở vũ khí phục vụ chiến trường miền Nam. Trong một lần vào Cà Mau, đoàn tàu bị Mỹ bao vây, ông Châu thoát chết nhưng bị trọng thương. Người dân che chở, đưa ông về đơn vị 962 rồi 950 của Quân khu 9, tiếp tục công tác giao nhận và cất giấu vũ khí. Năm 1973, ông chuyển về Quân giáo Quân khu 9 cho đến ngày giải phóng. Cuối năm 1975, ông Châu mới được giải quyết nghỉ phép về Thanh Hóa gặp lại vợ và con gái đầu lòng. Năm 1979, ông Châu đón vợ và 3 con vào ở hẳn trong Nam và sinh thêm 2 người con nữa. Ông Châu còn tham gia công tác nhiều nơi: Chiến trường Campuchia, làm Giám đốc Xưởng đóng tàu Rạch Sỏi (Kiên Giang)... Ông Châu xúc động nói: “Tôi có điều kiện tham gia hoạt động cách mạng là nhờ có người vợ chung thủy, sắt son yêu chồng, thương con”. Mọi việc trong nhà một tay bà Chân cáng đáng: chăn nuôi heo tăng thu nhập, dạy dỗ, chăm lo cho các con học hành... để ông Châu an tâm công tác tốt. Hiện nay, các con của ông đều đã thành đạt, có địa vị trong xã hội, nhưng sống giản dị, hòa đồng và biết thương yêu, giúp đỡ mọi người.

Năm 2001, ông Châu về hưu với cấp hàm Đại tá và tham gia sinh hoạt Hội CCB phường. Đến năm 2006, ông làm Chủ tịch Hội CCB phường Bình Thủy. Ông luôn gần gũi, động viên hội viên sống theo phương châm: “Mình tự cứu mình”, không ỉ lại, trông chờ sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội. Ông Châu cho biết: “Toàn phường hiện có 362 hội viên Hội CCB. Hầu hết, anh em đều có lương hưu nên Hội không còn hội viên nghèo, có khoảng 30% hội viên khá, giàu. Đạt được kết quả đó là nhờ Hội luôn quan tâm chăm lo đời sống hội viên, kịp thời giúp đỡ khi cần thiết”. Ông Châu đứng ra huy động vốn trong anh em đến nay được trên 700 triệu đồng, hàng tháng cho hội viên có nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh vay tín chấp với lãi suất thấp. Ông còn là hạt nhân đoàn kết và là cầu nối giúp hội viên biết thương yêu, giúp đỡ nhau khi có hữu sự, khó khăn. Các cấp Hội CCB của phường đều xây dựng Quỹ hội, tổng cộng khoảng 90 triệu đồng. Ông luôn sắp xếp thời gian tham gia nói chuyện truyền thống với thanh thiếu niên các trường học trong phường để góp phần xây dựng nhân cách sống cho thế hệ trẻ.

40 tuổi Đảng, với bề dày thành tích trong chiến đấu, xây dựng đất nước, giờ đây ông Châu chỉ mong ước sức khỏe dồi dào để có thể làm những việc có ích cho mọi người, cho xã hội.

2. Lò bánh mì của ông Trương Quốc Nhân, TB loại 4/4, ở ấp Trường Thọ, xã Trường Xuân, huyện Cờ Đỏ khá nổi tiếng do cung cách làm ăn cần cù, chân thật. Mấy năm qua, thu nhập từ lò bánh mì đã giúp các con ông có cuộc sống khá ổn định, nuôi được vợ con. Tuy chưa thật khá giả, nhưng ông rất vui vì đã tạo dựng được nghề nghiệp bền vững cho các con, không phải vất vả lo việc mưu sinh như ông trước đây.

Ông bà Nhân cùng con trai và các cháu nội quây quần đầm ấm bên nhau.  

Xuất thân trong gia đình nông dân nghèo ở Thanh Hóa, năm 16 tuổi, ông Nhân tham gia công tác giao thông ở xã. Năm 1967, ông tình nguyện vào bộ đội và tham gia chiến đấu khắp các chiến trường miền Đông rồi miền Tây. Ông luôn sát cánh bên đồng đội, chiến đấu ngoan cường không ngại gian khổ, hy sinh. Bom đạn quân thù làm ông nhiều lần bị thương, ông vẫn không nao núng. Năm 1974, trong một trận chiến đấu, ông bị trọng thương, chuyển về bệnh viện Quân khu 9 điều trị cho đến ngày giải phóng, với tỷ lệ thương tật là 28%. Sau khi đất nước thống nhất, ông Nhân về công tác ở Phòng Cán bộ, Cục Chính trị Quân khu 9. Năm 1977, ông kết hôn với bà Hồ Thị Sáu đang làm công tác hậu cần ở Quân khu 9. Do ảnh hưởng thương tật, sức khỏe yếu dần, ông Nhân xuất ngũ, về quê vợ (xã Trường Xuân) sinh sống.

Vợ chồng ông Nhân hạ quyết tâm chung sức bắt đầu cuộc sống mới với hai bàn tay trắng, chỉ có ý chí và nghị lực của người lính luôn tràn đầy. Thuê 6 công đất làm ruộng, ông bà làm thêm đủ nghề để mưu sinh. Bà Sáu nói: “Lúc đó, vợ chồng con cái chủ yếu sống dưới ghe, mua bán hàng bông, tạp hóa lặt vặt. Đến tận Cà Mau đốn sậy bán ở các chợ; mua từng ghe mía mang sang Đồng Tháp bán... tích lũy vốn liếng dần dần”. Những lần bà Sáu sinh con, ông Nhân chèo ghe đốn củi mang ra chợ bán kiếm tiền mua thức ăn bồi dưỡng cho vợ, mua sữa cho con. Nhờ chí thú làm ăn, ông Nhân dành dụm tiền mua từng công đất ruộng, mở rộng diện tích canh tác lên 13 công. Sinh xong con gái út, bà Sáu quyết định bán ghe, buôn bán nhỏ tại chợ để gần gũi, chăm sóc các con. Bà Sáu cho biết: “Tui với ổng có được học hành gì đâu. Mong mỏi lớn nhất của vợ chồng tui là các con được học hành, biết tính toán làm ăn và đối nhân xử thế”.

Năm 2001, ông bà Nhân cho các con học nghề làm bánh mì, rồi gom góp, vay mượn tiền mở lò bánh mì nhỏ tại chợ xã, tập cho các con làm ăn. Ông Nhân nói: “Theo tôi, không gì bằng cho các con một nghề vững chắc. Nghề nghiệp còn giúp các con năng động, chín chắn hơn trong suy nghĩ, hành động”. Lúc mới mở lò bánh, ông giúp các con quen dần công việc. Thời gian sau, ông để các con “tự bơi”, quán xuyến vốn liếng, thu chi hàng ngày. Các con ông thường làm ca đêm, từ 8 giờ tối đến 6 giờ sáng ngày hôm sau mới đủ bánh bỏ mối cho các chợ xã, thị trấn. Đến nay, lò bánh đã hoạt động trên 7 năm và thu hút nhiều khách hàng các chợ. Ông Nhân luôn nhắc nhở các con phải làm ăn chân chính, ngay thẳng, giữ nếp gia đình từ trước đến nay, không vì lợi nhuận mà đánh mất tình người.

Dù tuổi cao, sức yếu, nhưng khi địa phương phát động công tác xã hội, ông Nhân đều tham gia nhiệt tình. Có uy tín với chòm xóm, nên ông làm công tác vận động quần chúng, hòa giải rất hiệu quả. Người dân ở đây không quên việc ông Nhân đã nhượng lại 1.000m2 đất để xây dựng Trạm y tế xã Trường Xuân, sẵn sàng chấp hành chủ trương giải tỏa của chính quyền để làm lộ giao thông nông thôn. Từng tham gia công tác MTTQ ở ấp Trường Thọ, ông còn cùng các Hội, đoàn thể địa phương tích cực tham gia công tác vận động từ thiện, giúp đỡ tiền, quà cho các gia đình nghèo, khó khăn ở địa phương. Ông Nhân cho biết: “Tôi tiếc mình đã già, không còn cống hiến nhiều cho xã hội. Giúp đỡ được cho mọi người, tôi thấy vui lắm”.

Ông Trần Văn Trân, cán bộ phụ trách Thương binh - Xã hội xã Trường Xuân, huyện Cờ Đỏ, nói: “Ông Nhân là điển hình TB giàu ý chí, nghị lực vươn lên. Ông vừa chăm lo phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái, vừa nhiệt tình tham gia công tác địa phương”.

* * *

Chia tay những TB trung thành, giàu nhiệt huyết, không khuất phục khó khăn, cản ngại, chúng tôi khâm phục và trân trọng những tấm gương giản dị, thanh cao. Những tấm gương đó luôn có ý nghĩa giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng, sống xứng đáng với những sự hy sinh cao đẹp của thế hệ cha anh - những người tâm sáng, tim hồng...

Bài, ảnh: ANH PHƯƠNG