Nguyễn Hữu Hiệp
Từ năm 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông, nước ta bắt đầu có các kỳ thi khoa cử nhằm tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Trải qua 845 năm, đến triều vua Khải Định năm 1919 mới chấm dứt. Đã có nhiều loại khoa thi khác nhau, ở mỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, nhưng điểm chung là các khoa thi đã để lại cho đời sau nhiều tên tuổi lớn, đặc biệt là những người đi sứ sang Trung Hoa khiến nước lớn nể phục.
![]() |
|
Các tân khoa được ban mũ, áo, hia. Ảnh tư liệu |
Có những vị hễ thi thì đậu và hết sức đặc biệt là đều đậu đầu bảng của cả 3 khoa Hương, Hội và Đình. Đó là ông: Đào Sư Tích, đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (khoa Nhâm Dần, 1602); Phạm Đôn Lễ, đỗ Đình nguyên Trạng nguyên (khoa Tân Sửu, 1481); Vũ Dương, đỗ Đình Nguyên Trạng nguyên (khoa Quý Sửu, 1493); Nguyễn Đăng, đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (khoa Nhâm Dần, 1602); Lê Quý Đôn, đỗ Đình nguyên Bảng nhãn (khoa Nhâm Thân, 1752); Ngô Thì Sĩ, đỗ Đình nguyên Bảng nhãn (khoa Bính Tuất, 1766 con của Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm); Trần Bích San, đỗ Đình nguyên (khoa Ất Sửu, 1865 con của Phó bảng Doãn Đạt); Nguyễn Khuyến, đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (khoa Tân Mùi, 1871 có con đậu Phó bảng); Vũ Phạm Hàm, đỗ Đình nguyên (khoa Nhâm Thìn, 1891).
Và hơn hết là ông Nguyễn Hiền, đỗ Đình nguyên Trạng nguyên lúc mới 13 tuổi, dẫn đầu 48 Tiến sĩ trong khoa Đại tỷ năm Đinh Mùi, 1247. Nhà sử học đầu tiên của nước ta là ông Lê Văn Hưu đậu Bảng nhãn năm ông mới 18 tuổi.
Cá biệt, những con người xuất sắc trong khoa cử ngày trước có Trạng nguyên Nguyễn Trực (đỗ khoa Nhâm Tuất, 1442 khoa nầy có 3 vị đỗ Tiến sĩ cập đệ, 7 vị đỗ Tiến sĩ xuất thân và 23 vị đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Đây là khoa thi đầu tiên các Tiến sĩ được vua Lê Thái Tông cho khắc tên vào bia dựng ở văn miếu để "phấn chấn lòng người văn học"). Nguyễn Trực nhân đi sứ sang Trung Quốc, gặp khoa, nghĩ rằng đây là dịp may hiếm có để thử so tài với sĩ nhân Trung Hoa, bèn tâu lên, được vua Tàu đặc cách cho thi. Kết quả thật bất ngờ, ông đã đỗ ngay Trạng nguyên, trở thành Trạng nguyên hai nước! Không chỉ thế, cũng trong khoa thi này, Bảng nhãn Trịnh Thiết Tường người cùng đi trong sứ đoàn, đỗ sát kế đó, vua Tàu cũng phong ngay "Lưỡng quốc Bảng nhãn".
Lại một trường hợp hi hữu nữa, đó là ông Phan Cảnh (cũng gọi Phan Kính) sau khi đỗ Thám Hoa đầu khoa Quý Hợi, 1743 (khoa nầy không lấy Trạng Nguyên và Bảng Nhãn), ông được bổ làm Kinh lược sứ ở vùng biên giới Việt Trung (Tuyên Quang Vân Nam), có làm quen với viên Tham phủ họ Hoa (cũng đỗ Thám hoa năm Quý Hợi triều nhà Thanh). Hai người có làm những vần thơ xướng họa thể hiện mối tình bang giao sâu đậm giữa văn nhân hai nước. Vua Càn Long nghe biết, cảm phục văn tài đức độ của Phan Cảnh nên đặc tứ gia phong "Lưỡng quốc Đình nguyên Thám hoa" và tặng ông chiếc áo cẩm bào.
Những câu chuyện trên khẳng định tư chất của người Việt Nam, làm cho láng giềng phải kiêng nể, củng cố quan hệ bình đẳng trong bang giao.
![]() |
|
Các tân khoa được Tổng đốc thay mặt nhà vua ban yến. (Các khoa thi của triều Nguyễn được tổ chức cho đến năm 1919 thì chấm dứt). Ảnh tư liệu |
N.H.H.