Vùng ĐBSCL có mùa khô đầu năm và mùa lũ hay còn gọi là mùa nước nổi cuối năm. Việc phân định 2 mùa rõ rệt trong năm này giúp hệ sinh thái vùng ĐBSCL được tuần hoàn, tự làm sạch và cùng phát triển. Nhưng gần đây, theo ông Kỷ Quang Vinh, Chánh Văn phòng Công tác Biến đổi khí hậu (BĐKH) Cần Thơ, như một quy luật, cách 10 năm lại xảy ra một trận lụt lớn và từ 5-6 năm lại xảy ra một đợt khô hạn kéo dài. Đặc biệt là tình trạng khô hạn ngày càng diễn biến phức tạp và nặng nề hơn. Điển hình như hạn, xâm nhập mặn nghiêm trọng xảy ra vào mùa khô năm 2015-2016 gây thiệt hại hàng ngàn tỉ đồng cho cả vùng ĐBSCL Hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt nhiều khả năng sẽ xuất hiện thường xuyên, tạo thành vấn đề lớn ảnh hưởng nghiêm trọng cả ĐBSCL trong thời gian tới. Ngoài ra, hiện tượng giông lốc, tình trạng sạt lở bờ sông tăng khá mạnh trong những năm gần đây gây thiệt hại lớn về tài sản, thậm chí cả tính mạng của con người.
![]() |
|
ĐBSCL cần có giải pháp quản trị nguồn nước hiệu quả để đảm bảo sinh kế. Trong ảnh: Du khách tham quan chợ nổi Cái Răng (TP Cần Thơ). |
Nhiều cuộc hội nghị, hội thảo được các ngành chức năng đưa ra để bàn giải pháp chủ động nguồn nước cho cư dân ĐBSCL dù xảy ra BĐKH, hạn hán, xâm nhập mặn; dù có những tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn. Bởi, chỉ có chủ động nguồn nước thì ĐBSCL trong tương lai mới là một khu vực đáng sống. "Giải pháp quản trị nguồn nước đang là vấn đề cấp bách. Muốn làm được, cần dựa vào trình độ phát triển, số liệu đo đạc thực tế địa phương để phân kỳ thực hiện phù hợp. Đặc biệt cần có giải pháp thật khả thi trong trường hợp bình thường và trường hợp bất thường" - ông Kỷ Quang Vinh, Chánh Văn phòng Công tác BĐKH Cần Thơ đề xuất.
Theo ông Kỷ Quang Vinh, trong điều kiện bình thường, nghĩa là ĐBSCL có một mùa khô đầu năm và mùa nước nổi cuối năm. Trong điều kiện này, cần có thỏa thuận mang tính pháp lý về điều hòa lưu lượng ở mùa khô. Ví dụ: Ở mùa khô lưu lượng dòng chảy đạt khoảng 2.500-3.000m3/s tại Tân Châu. Và ở mùa mưa tối đa lũ xả về 40.000m3/s. Đây là điều kiện bình thường của hàng trăm năm trước đây của vùng ĐBSCL. Nếu quốc gia nào trên dòng Mekong có các hoạt động xây thủy điện, xả nước không đảm bảo yêu cầu của các nước hạ nguồn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Để giải pháp thực hiện được, ngành hữu quan cần có định nghĩa về lũ lụt, hạn hán. Trên cơ sở đó lập bản đồ cao độ đất thực tế; bản đồ lũ lụt hạn hán quá khứ nhằm thiết lập hệ thống quan trắc và dự báo sớm tình hình hạn mặn và lũ lụt từ năm trước. Song song đó, tại ĐBSCL tạo hệ thống hồ trữ nước của mùa mưa, lũ phân tán (cấp phường, xã ) dùng cho cấp nước đáp ứng nhu cầu trong mùa khô; khôi phục các khu vực đất ngập nước (wetland) Trong trường hợp hạn bất thường, cần triển khai công trình bổ cập nước cho tầng nước ngầm thông qua việc học tập kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã thành công trong việc bơm trữ nước ngọt xuống tầng nước ngầm. Có giải pháp xây dựng đê bao và đập ngầm ngăn mặn (underwater sill); xây dựng nhà máy khử muối nước biển để cấp nước sinh hoạt (vận hành tốt với nguồn nước ngọt và nguồn nước biển) Đối với trường hợp lũ lớn, ngập sâu cần có công trình mở rộng dòng sông khi có lũ (Room for river); cải tạo và làm mới hệ thống đê bao, bờ bao, đê biển dựa vào mạng đường bộ hiện có để chống lũ và ngăn mặn; kênh phân lũ (flood bypass) "Các giải pháp chủ động nguồn nước cần được tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn phương án tối ưu, khả thi nhất, sớm triển khai cho ĐBSCL. Song song đó, cần có giải pháp bổ sung, như: nâng cao năng lực về chủ động quản trị nguồn nước, như: hợp tác với cơ quan chuyên môn xây dựng vận hành hệ cơ sở dữ liệu trực tuyến; chuyển đổi cơ cấu kinh tế công nông nghiệp; sử dụng nước hiệu quả... Tạo quỹ chủ động quản trị nước: xổ số gây quỹ Phòng ngừa giảm thiểu tác hại khí hậu; Thuế, phí, lệ phí sử dụng nguồn nước " ông Kỷ Quang Vinh đề xuất.
Bài, ảnh: HÀ TRIỀU