Gia Bảo
Kỳ cuối: Liên kết phải tạo ra động lực mới
Xác định lĩnh vực liên kết, hài hòa lợi ích bên tham gia, có "nhạc trưởng" điều phối chung. Song, nếu liên kết không tạo ra động lực mới, các cơ hội mới cho sự phát triển thì cũng chỉ là liên kết suông, hình thức.
Liên kết phải tạo ra các cơ hội
Các nội dung liên kết giữa các địa phương ĐBSCL hiện nay chủ yếu do tự thỏa thuận, thiếu cơ chế để giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích giữa các địa phương tham gia liên kết. Điều này khiến cho liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) khó ràng buộc, ít cơ hội thành công. Nhiều ý kiến của chuyên gia, lãnh đạo các địa phương ĐBSCL cho rằng, Quy chế thí điểm điều phối liên kết phát triển kinh tế- xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020 (gọi tắt là Quy chế thí điểm) đã cơ bản đáp ứng yêu cầu liên kết, nhưng hai lĩnh vực thí điểm liên kết, gồm: phát triển nông nghiệp bền vững và hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất nâng cao sức chống chịu của cư dân do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) trong dự thảo nêu quá rộng. Cần khu biệt lĩnh vực liên kết, bởi liên kết phải tạo ra được các cơ hội phát triển, nếu không sẽ không gắn kết được các chủ thể liên kết.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho biết: "Các lĩnh vực liên kết, mốc thời gian liên kết được xác định trong Quy chế thí điểm khá phù hợp đối với sự phát triển của vùng. Nhưng cần bổ sung thêm đối tượng áp dụng là hợp tác xã. Liên kết không chỉ trên phạm vi 13 tỉnh, thành ĐBSCL mà cần các bộ, ngành Trung ương cùng tham gia. Đồng thời mở rộng không gian liên kết giữa ĐBSCL với TPHCM. Có ưu đãi cao nhất cho tư nhân đầu tư các dự án cấp vùng". Theo ông Phạm Thành Khôn, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tỉnh Vĩnh Long, liên kết ngoài tạo ra các cơ hội cần phải hài hòa lợi ích các bên tham gia, cần xác định sự tham gia của bộ máy hành chính và doanh nghiệp (trong và ngoài nước) trong liên kết. Có thể quy định, cơ quan nhà nước tham gia bắt buộc, doanh nghiệp là chủ thể tự nguyện nhưng phải gắn doanh nghiệp (DN) vào thì liên kết mới có hiệu quả.
![]() |
|
Mô hình liên kết sản xuất lúa trong “cánh đồng lớn” tại ĐBSCL đang phát huy hiệu quả. (Ảnh: Thu hoạch lúa trong “cánh đồng lớn” ở tỉnh Hậu Giang). Ảnh: T. HÀ |
Thực tế, sản xuất nông nghiệp rất nhiều rủi ro, bấp bênh do phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, tình trạng "được mùa, mất giá" luôn khiến nông dân lo lắng. Liên kết "4 nhà" để giải quyết đầu ra nông sản đã được Chính phủ ra chủ trương từ năm 2002 (Quyết định 80) và rất nhiều chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản tiếp theo Quyết định 80, nhưng liên kết thường gãy do nông dân, DN bẻ kèo hợp đồng. Mới đây, tại Đồng Tháp, hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Đề án "tái cơ cấu ngành nông nghiệp" đã nêu thực trạng trong sản xuất lúa gạo, trái cây, diện tích sản xuất bình quân trên nông hộ dưới 0,5ha/hộ chiếm đa số. DN không thể ký kết cùng lúc liên kết với hàng ngàn nông hộ để có sản lượng lớn, đồng nhất. Nhiều ý kiến đề xuất, cần tập hợp nông dân lại để thành lập hợp tác xã và đại diện thành viên ký hợp đồng với các DN. Đồng thời, phải gỡ vướng về chính sách cho DN đầu tư nông nghiệp. Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Minh Hoan, nói: "Chúng ta đang định hướng liên kết vùng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nông nghiệp- lợi thế lớn của ĐBSCL. Nhưng tôi nghĩ rằng, trước khi nói đến liên kết vùng rộng lớn, hãy tạo điều kiện thông qua một chuỗi chính sách để người nông dân hợp tác với nhau trong từng cánh đồng lớn cụ thể. Nếu để hàng triệu hộ dân sản xuất riêng lẻ sẽ không có liên kết vùng. Bởi người nông dân với tư duy mùa vụ ngắn hạn sẽ phá vỡ quy hoạch mà quy hoạch là điều kiện quan trọng nhất để hình thành liên kết vùng". Ông Lê Minh Hoan cho rằng, liên kết nếu nông dân và DN không "sẵn lòng" thì các chủ trương, chính sách hỗ trợ, cách thức mà chúng ta đang làm, cùng sự vận hành của cả guồng máy chính trị cũng không thể phát huy trong đời sống, trên từng cánh đồng, ao cá, vườn cây.
Chế tài để sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư
Hoạt động liên kết vùng về bản chất đã vượt quá khuôn khổ riêng của từng địa phương. Trong bối cảnh 12 tỉnh còn phụ thuộc vào ngân sách trung ương (chỉ riêng TP Cần Thơ có điều tiết về trung ương), thì việc cùng nhau đóng góp tài chính để thực hiện liên kết, phát triển vùng cũng rất khó. Theo đại diện Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ)- hợp tác xây dựng Quy chế thí điểm, để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, các địa phương cần chia sẻ thông tin về phát triển kinh tế- xã hội với nhau, chọn lọc những điều phù hợp, sát thực tiễn để tiến tới xây dựng cơ chế thống nhất cho cả vùng. Khi có cơ chế chung thì không gian phát triển kinh tế vùng sẽ mở rộng, giúp tối ưu hóa các nguồn lực hữu hạn trong đầu tư. "Cuối năm 2015, các đối tác phát triển cùng hợp tác xây dựng Quy chế thí điểm sẽ nhóm họp để làm rõ vấn đề huy động vốn trong quy chế, các giải pháp cung cấp và huy động vốn ODA. Hiện nay, biến đổi khí hậu đang tác động tiêu cực đến sự phát triển của vùng, sinh kế của người dân. Chúng ta đã xác định rõ những tổn thương mà ĐBSCL đang gánh phải thì sẽ biết cần đầu tư vào đâu và đầu tư như thế nào để tối ưu hóa nguồn lực"- Tiến sĩ Christian Henckes, Giám đốc Chương trình quản lý Tổng hợp vùng ven biển (ICMP)/GIZ, cho biết.
|
- Mỗi năm ĐBSCL mất khoảng 500ha đất do sạt lở bờ biển, bờ sông. |
Ông Tom Kompier, Bí thư thứ Nhất Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, cho biết: Hà Lan cũng có những vùng đồng bằng và cùng chịu tác động của BĐKH như Việt Nam. Hà Lan có Ban điều phối vùng đồng bằng và có quỹ phát triển đồng bằng, với sự tham gia đóng góp của các địa phương, có tiêu chí cấp vốn rõ ràng. Đối với ĐBSCL, sự tồn tại, phát triển của vùng phụ thuộc rất lớn vào quyết định của Chính phủ. BĐKH và sự thay đổi các điều kiện phát triển kinh tế- xã hội đòi hỏi các địa phương phải có chương trình hành động và kế hoạch dài hạn. Cần tham vấn hiệu quả phát triển giữa các địa phương và ngành trong lập kế hoạch; thực hiện các cam kết; có cơ chế phân bổ nguồn lực, khuyến khích các dự án đầu tư liên tỉnh và kiểm tra khả năng chống chịu và thích ứng với BĐKH của các địa phương để kêu gọi các nguồn lực đầu tư. Quan trọng nhất là sự chia sẻ thông tin giữa các địa phương để làm cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư và giám sát sự dịch chuyển của nguồn vốn.
Các liên kết, cam kết hợp tác phát triển giữa các địa phương ĐBSCL và với TP Hồ Chí Minh, mới chỉ dừng lại ở trao đổi thông tin, cung ứng hàng hóa (chỉ một vài sản phẩm đặc thù), không cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm khi liên kết gãy, nguyên nhân được đưa ra là do các liên kết trước nay đều trên nguyên tắc tự nguyện, nên không có chế tài trong liên kết. Ông Trương Duy Hải, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bến Tre, nói: "Liên kết cần bắt buộc và phải có chế tài, nếu các địa phương không thực hiện đúng cam kết. Nếu không có chế tài thì các địa phương vẫn "độc hành" trong phát triển". Còn ông Châu Hồng Phúc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, khẳng định nếu các địa phương quy hoạch và thực hiện quản lý quy hoạch không nghiêm thì cũng không có ý nghĩa gì trong liên kết. Cần chế tài để quy trách nhiệm cho từng chủ thể tham gia mối liên kết nếu không thực hiện đúng chỉ đạo của "nhạc trưởng". Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Văn Hiếu, cho biết: "Là cơ quan chủ trì xây dựng Quy chế thí điểm, Bộ sẽ tham mưu Chính phủ thành lập Văn phòng điều phối gồm: Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ. Bộ sẽ cố gắng tham mưu Chính phủ ban hành cơ chế tài chính riêng để phát triển vùng ĐBSCL".
Các địa phương ĐBSCL cùng đồng thuận cần Quy chế thí điểm liên kết và đề nghị "nhạc trưởng" phải là cơ quan Chính phủ. Hy vọng rằng, với sự quyết tâm này, ĐBCSL sẽ có vị thế khác trong tương lai.