Gia Bảo
Kỳ 2: Khó tối ưu hóa nguồn lực
Liên kết để xác lập không gian kinh tế rộng lớn hơn để tối ưu hóa các nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, liên kết hợp tác nội vùng và liên vùng ĐBSCL thời gian qua chưa bền chặt, không gian kinh tế vùng ĐBSCL bị chia cắt theo địa giới hành chính đang làm cản trở sự phát triển của vùng.
Không gian kinh tế bị chia cắt
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, quá trình phát triển vừa qua của vùng ĐBSCL chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương để kêu gọi đầu tư, sự liên kết giữa các địa phương chưa chặt chẽ nên chưa thể giải quyết dứt điểm tình trạng cạnh tranh cục bộ giữa các địa phương. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội của vùng. Cùng đó, biến đổi khí hậu (BĐKH) đang đe dọa sự phát triển của ĐBSCL.
Ông Nguyễn Đức Trung, Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nói: "Nguồn lực phát triển của ĐBSCL hạn chế nhưng chưa được đầu tư tập trung, mạnh ai nấy làm. ĐBSCL thuận lợi trong phát triển tài nguyên nông nghiệp, trong khi các tài nguyên khác như khoáng sản thì vùng không có nhiều. Vùng đang đối mặt với rất nhiều thách thức như: điều kiện tự nhiên thay đổi và an ninh nước cho sản xuất, nhu cầu sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn sông Mekong đã và đang đe dọa trực tiếp đến hạ nguồn. Môi trường đầu tư kinh doanh của vùng không thuận lợi do hạ tầng cơ sở kém. Quy hoạch không gian phát triển bó hẹp trong địa giới hành chính nên không chủ động được trong đầu tư". Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Văn Hiếu, cho rằng, ĐBSCL tăng trưởng cao, nhưng tiêu thụ nông sản chậm, thiếu bền vững. Nếu giải pháp cân đối sản xuất giữa các địa phương chưa rõ sẽ dẫn đến mất cân đối cung- cầu. Còn theo vị lãnh đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vừa qua, bộ đã tiến hành khảo sát tình hình sụt lún cục bộ tại ĐBSCL, cho thấy tình hình sụt lún, BĐKH là có thật, nhưng việc khai thác cát gây sụt lún bờ sông hoàn toàn do khai thác bất hợp lý, không thể đổ cho BĐKH. Các địa phương phải phối hợp với nhau mới giải quyết căn nguyên từ gốc.
![]() |
| Lãnh đạo TP Cần Thơ thăm Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc tại TP Cần Thơ. Ảnh: M. HUYỀN |
Mặc dù 13 tỉnh thành ĐBSCL đã ký kết chương trình hợp tác toàn diện phát triển kinh tế- xã hội với TP Hồ Chí Minh; thỏa thuận hợp tác song phương nội vùng trên nhiều lĩnh vực, như: đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, chế biến lương thực, thủy sản, dệt may, y tế, giáo dục, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ xã hội Song, liên kết hiện nay chỉ mới dừng lại ở cấp chính quyền, sự tham gia của doanh nghiệp (DN) rất ít và chưa đi vào thực chất. Các DN liên kết với nhau chủ yếu xuất phát từ cơ hội kinh tế thị trường. Nguồn lực đầu tư hữu hạn mà nội dung liên kết lại quá ôm đồm- "liên kết toàn diện" mà không có ưu tiên cho từng giai đoạn, từng mối quan hệ nên tính khả thi của các liên kết rất thấp; nội dung và biện pháp thực hiện còn mang tính sự vụ, sự việc. Các tỉnh thành đều xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, nhưng vì nhiều lý do mà những thông tin chính sách quan trọng này không được chia sẻ. Khi không có thông tin về chính sách của nhau thì rất khó để các tỉnh cùng nhau thảo luận các chương trình hợp tác và liên kết.
Khó tối ưu hóa nguồn lực
Các địa phương đều đặt mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và bền vững phải dựa vào ưu thế nổi trội của địa phương, đặt nặng công nghiệp, dịch vụ, giảm nông nghiệp trong khi nguồn lực đầu tư của địa phương không đủ sức đảm đương. Vốn đầu tư phát triển chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, trong khi "thành tích" phát triển của các địa phương dựa vào thước đo duy nhất là "tốc độ tăng GDP", để tăng GDP, các địa phương tăng xin đầu tư từ Trung ương. Chính sách, cơ chế do các bộ, ngành Trung ương ban hành cũng thiếu nhất quán, chồng chéo nên khó điều phối một cơ chế chung cho cả vùng.
PGS.TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), nêu thực trạng: "Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nam bộ giai đoạn 2014-2019 đã được phê duyệt, nhưng các địa phương vẫn mạnh ai nấy làm. Chúng ta không thấy được quốc tế và không biết được mình cần gì thì làm sao để liên kết, đưa khoa học- công nghệ vào sản xuất, tăng chuỗi giá trị hàng hóa, nâng sức cạnh tranh". Một thực tế khác, sự cạnh tranh "ngầm" giữa các địa phương trong thu hút đầu tư bằng chính sách "ưu đãi hết khung" cho các nhà đầu tư cũng tác động tiêu cực đến các quy hoạch phát triển chung của vùng và không tối ưu hóa các nguồn lực đầu tư. Trong khi đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào vùng còn khiêm tốn, đa phần dự án quy mô nhỏ, chủ yếu trên lĩnh vực chế biến, công nghiệp, dịch vụ còn dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp rất ít. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 1993-2014, tổng giá trị vốn ODA cho vùng khoảng 5,7 tỉ USD, chiếm 8,2% so với tổng nguồn vốn ODA cả nước (dự án ODA trên lĩnh vực nông nghiệp chỉ khoảng 500 triệu USD). Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến cuối tháng 6-2015, toàn vùng có 1.013 dự án FDI còn hiệu lực (chiếm 5,4% cả nước), vốn đăng ký trên 12,44 tỉ USD (chiếm 4,8% cả nước).
|
Ông Christian Henckes, Giám đốc Chương trình quản lý Tổng hợp vùng ven biển (ICMP)/Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ), nói: “Tiềm năng ĐBSCL lớn, nhưng chưa phát huy hết do nhiều tồn tại chưa được giải quyết. Cần tạo sức ép để có mối liên kết, từ đó mới thúc đẩy cải cách thể chế, quy hoạch không gian phát triển kinh tế vùng và sử dụng nguồn lực đầu tư có hiệu quả”. |
Trong cuộc họp sơ kết Ban Chỉ đạo TNB 6 tháng đầu năm 2015, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh yêu cầu các địa phương phối hợp với Ban Chỉ đạo để hoàn thành mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2011-2015; phải đặc biệt chú trọng liên kết trong sản xuất, liên kết nội vùng và giữa các vùng với nhau. Các bộ, ngành Trung ương phối hợp với các địa phương ĐBSCL đẩy nhanh việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án liên kết vùng ĐBSCL về phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trái cây, thủy sản và nâng cao năng lực nông dân giai đoạn 2016 2020. Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất, chế biến và bảo quản sản phẩm nông sản. Ban Chỉ đạo TNB cũng đề nghị Ban Kinh tế Trung ương tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư các chủ trương, chính sách về phát triển, liên kết hợp tác kinh tế vùng ĐBSCL để tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực phát triển vùng.
................................
Kỳ 3: Định danh liên kết