* Văn Công - Anh Khoa
Bài 1: Điệp khúc "trúng mùa, rớt giá"!
Hằng năm đóng góp trên 50% tổng sản lượng lúa và trên 90% khối lượng lúa gạo xuất khẩu, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất cả nước, là vùng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đóng góp một lượng lớn lúa gạo cho xuất khẩu, đem lại hàng tỉ USD về cho đất nước. Tuy nhiên, lúa gạo vùng ĐBSCL và cả nước còn phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu, đầu ra thiếu sự ổn định nên nhiều lúc lúa gạo nông dân làm ra bị tồn đọng, khó tiêu thụ, giá cả bấp bênh Những điều này đòi hỏi cần tổ chức lại sản xuất lúa gạo từ quy trình sản xuất giống chất lượng cao, khâu thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch và cả khâu tiêu thụ nhằm nâng cao chất lượng, giá trị hạt gạo trên thị trường thế giới...
Trong những năm gầy đây, các vụ lúa ở ĐBSCL đều trúng mùa, sản lượng lúa làm ra năm sau luôn cao hơn năm trước. Tuy nhiên, việc tiêu thụ lúa gạo nơi đây khá bấp bênh: lúa rớt giá và mức lãi của nông dân không cao. Điệp khúc “trúng mùa, rớt giá” không biết kéo dài đến bao giờ!...
* NĂNG SUẤT, SẢN LƯỢNG TĂNG
Là vùng an ninh lương thực và sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, diện tích, năng suất và sản lượng lúa vùng ĐBSCL luôn trong xu hướng tăng. Năm 2006 diện tích sản xuất lúa của toàn vùng chỉ vào khoảng 3,773 triệu ha, đến năm 2009 đã đạt 3,872 triệu ha (diện tích tăng chủ yếu là thâm canh tăng vụ, còn đất sản xuất lúa ngày càng giảm do quá trình đô thị hóa). Năng suất lúa của toàn vùng vào năm 2006 chỉ đạt trung bình 4,83 tấn/ha, đến năm 2009 đã đạt trung bình 5,29 tấn/ha. Tổng sản lượng lúa toàn vùng vào năm 2006 chỉ đạt 18,229 triệu tấn, đến năm 2009 đã đạt 20,483 triệu tấn. Theo ngành nông nghiệp các địa phương ĐBSCL, đạt được kết quả nêu trên là do nông dân trồng lúa vùng ĐBSCL đã biết sử dụng các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được sâu bệnh vào trong sản xuất. Không chỉ vậy, người trồng lúa đã có giải pháp canh tác phù hợp: từ áp dụng chương trình “3 giảm, 3 tăng” (3 giảm: lượng giống gieo sạ, thuốc trừ sâu bệnh, phân đạm; tăng: năng suất lúa, chất lượng lúa gạo, hiệu quả kinh tế), nông dân trồng lúa đã chuyển sang áp dụng chương trình “1 phải, 5 giảm” (1 phải là phải dùng giống xác nhận, còn 5 giảm gồm giảm nước, giảm thất thoát sau thu hoạch và cộng với ba giảm trước đây của “3 giảm, 3 tăng”).
Không chỉ vậy, từ năm 2010, Bộ NN&PTNT chính thức công nhận vụ lúa thu đông là vụ lúa chính trong năm, quan trọng ngang bằng với vụ lúa đông xuân và hè thu. Vì thế, nếu như những năm trước đây, nhiều địa phương vùng ĐBSCL ít quan tâm đến sản xuất vụ lúa thu đông (lúa vụ 3), chủ yếu để nông dân canh tác một cách tự phát thì vụ thu đông năm nay, có sự chỉ đạo từ ngành hữu quan, các địa phương ĐBSCL đã tăng diện tích xuống giống với mục tiêu đạt năng suất cao. Từ đó, góp phần nâng cao sản lượng lúa gạo trong vùng và cả nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cũng như đáp ứng thêm gạo cho xuất khẩu... Do đó, dự kiến năm 2010, tổng sản lượng lúa gạo toàn vùng ĐBSCL làm ra sẽ cao hơn so với năm 2009.
* ĐẦU RA NGÀY CÀNG KHÓ
Sau khi cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lúa gạo vùng ĐBSCL còn đóng góp đáng kể trong việc đem ngoại tệ về cho đất nước. Tuy nhiên, đầu ra của lúa gạo ĐBSCL cũng như cả nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Điều này thể hiện rõ nhất là ở thị trường nội địa.
![]() |
|
Thương lái thu mua lúa của nông dân. Ảnh: VĂN CÔNG |
|
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giai đoạn 2006-2009, diện tích, năng suất và sản lượng lúa của cả nước đều tăng. Vào năm 2006, diện tích sản xuất lúa của cả nước vào khoảng 7,324 triệu ha, năng suất đạt 4,89 tấn/ha và tổng sản lượng đạt 35,849 triệu tấn. Đến năm 2009, diện tích sản xuất lúa của cả nước đạt khoảng 7,44 triệu ha, năng suất đạt 5,23 tấn/ha và tổng sản lượng đã đạt 38,895 triệu tấn. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2008, Việt Nam xuất khẩu khoảng 4,679 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2,663 tỉ USD. Đến năm 2009, xuất khẩu gạo của nước ta đã tăng mạnh về lượng với khoảng 6 triệu tấn, nhưng giá trị lại giảm so với năm 2008 và chỉ đạt 2,464 tỉ USD. Từ ngày 1-1 đến 20-8-2010, kết quả xuất khẩu gạo của nước ta đạt 4,385 triệu tấn, đạt giá trị 1,894 tỉ USD |
* NGƯỜI TRỒNG LÚA CÓ HƯỞNG LỢI?
Theo nhiều nông dân trồng lúa tại ĐBSCL, mức lợi nhuận từ việc trồng lúa mà họ đạt được cao nhất trong khoảng 3 năm trở lại đây là ở mức khoảng 1,5-3,5 triệu đồng/vụ/công lúa. Nhưng để đạt được mức lợi nhuận vừa nêu, người trồng lúa phải bỏ ra hơn 3 tháng để gieo trồng và chăm sóc. Không chỉ vậy, lúa phải đạt năng suất từ 40-50 giạ/công (chủ yếu ở vụ đông xuân) và điều quan trọng là giá lúa phải ở mức trên 4.000 đồng/kg. Tuy nhiên, với chi phí sản xuất và năng suất lúa không ổn định theo các mùa vụ, cộng thêm tình hình thời tiết, sâu bệnh ngày càng diễn biến phức tạp và nhất là sự bấp bênh của thị trường..., người trồng lúa chưa đạt được mức lợi nhuận theo mong đợi, phần lớn trong số họ vẫn đang còn nghèo. Đây là điều không công bằng. Bởi lẽ, sản lượng và lượng gạo xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng, giúp thu về hàng tỉ USD/năm cho đất nước nhưng người làm ra hạt gạo chưa được hưởng lợi thỏa đáng.
![]() |
|
Những vụ lúa gần đây thường xuất hiện tình trạng nông dân khó bán lúa khi bước vào thu hoạch rộ. |
Liên quan đến sản xuất lúa, Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, từng nhận xét: Sản lượng lúa tại ĐBSCL tăng từ 4,2 triệu tấn năm 1976 tăng lên 20,6 triệu tấn vào năm 2008 và đến năm 2009 đạt gần 21 triệu tấn. Nhưng nông dân sản xuất lúa tại ĐBSCL ngày càng gặp nhiều khó khăn và rủi ro. Nguyên nhân do sản xuất nhỏ lẻ và manh mún nên sản phẩm làm ra không đủ chất, không đảm bảo lượng và ngày càng khó trong tiêu thụ. Trong khi các yếu tố thời tiết, lúa giống ngày càng ảnh hưởng nhiều đến mùa màng, năng suất, chất lượng... hạt lúa nông dân làm ra. Không chỉ vậy, nhiều nông dân có xu hướng ngày càng nghèo do mất đất sản xuất (chủ yếu do quá trình đô thị hóa), chi tiêu gia đình và các chi phí sản xuất ngày càng cao, giá lúa lại thấp và bấp bênh... Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh- Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL-Trường Đại học Cần Thơ, từng dẫn chứng số liệu khiến nhiều người không khỏi “giật mình”: Nông dân trồng lúa, sau khi thu hoạch phải chi tới khoảng 65% số tiền mình có được cho vật tư nông nghiệp, 11% cho ngân hàng, 4% cho hàng xóm (cưới hỏi, thôi nôi, đầy tháng...) và họ chỉ chi cho mình khoảng 20%...
VĂN CÔNG-ANH KHOA
Bài 2: Còn nhiều bất cập, yếu kém