Cửu Đỉnh ở Đại Nội Huế là báu vật bằng đồng vô giá của nước ta. 9 đỉnh: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh. Mỗi đỉnh có khắc 17 cảnh sông, núi, mây, gió, hoa cỏ, cây trái v.v... đặc trưng 3 miền Việt Nam, tổng cộng có 153 hình ảnh. Trong sách “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” (NXB Thi Thức, 1-2011), nhà văn Dương Phước Thu đã có một phát hiện thú vị: Tất cả các loại cảnh vật khắc trên đỉnh đều được chọn lọc và sắp xếp theo con số 9: 9 ngọn núi lớn, 9 con sông lớn; 9 loài chim; 9 loài hoa, 9 loài cây lương thực... Đất nước Việt Nam ta núi thì nhiều, sông cũng lắm, chọn 9 ngọn núi, 9 con sông thôi là sự lựa chọn rất khó khăn. Vua Minh Mạng chọn khắc những ngọn núi, con sông có vị trí rất đích đáng trong lịch sử dân tộc.
Trong 153 hình ảnh được chọn khắc trên Cửu Đỉnh, có nhiều sản vật chung của cả nước mà Nam Bộ cũng có như cây lúa tẻ, lúa nếp, cá lóc (lục hoa ngư), cá rô (Đăng Sơn Ngư), con ngao, con sò huyết, hoa sen, hoa lài, hoa hồng, quả xoài, quả mít, củ tỏi, củ gừng, củ nghệ... Cùng những hình ảnh lớn như sông, cửa khẩu, khu vực Sài Gòn -Nam Bộ được chọn nhiều hình ảnh rất đắc địa. Trong 9 con sông được khắc trên đỉnh, Sài Gòn - Nam Bộ được chọn 3: Sông Bến Nghé, sông Tiền, sông Hậu. Trong 9 con kênh đào, Nam Bộ được chọn 1: Kênh đào Vĩnh Tế.
![]() |
|
Kênh đào Vĩnh Tế chạm khắc trên đỉnh. |
Ngưu Chữ Giang, tục gọi là sông Bến Nghé, còn gọi là sông Tân Bình vì chảy qua huyện Tân Bình xưa. Khi người Pháp chiếm Sài Gòn và lục tỉnh, họ gọi là sông Sài Gòn. Nguồn sông chảy từ Bương Bầm- Lộc Ninh, chảy song song với sông Bé, về Nhà Bè thì gặp sông Đồng Nai, rồi chảy vào cửa biển Cần Giờ. Sông rộng và sâu, dài khoảng 256 cây số. Từ đầu thế kỷ XIX, nhiều tàu thuyền của các nước và các tỉnh, trấn của Đại Việt ra vào sông này buôn bán tấp nập. Tục truyền, sông gọi là Ngưu Chữ vì xưa kia hai bên bờ hoang vắng, có nhiều cá sấu sinh sống, chúng thường đuổi cắn nhau, tiếng kêu như tiếng trâu nghé rống. Còn theo sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, thì nơi đây có cái bến có nhiều trâu rừng, nghé rừng đến uống nước, mới có tên gọi. Địa danh Bến Nghé cũng được dùng để chỉ thành Gia Định. Thành này xưa tiếp giáp với thủ phủ Sài Gòn và là trung tâm thương mại Chợ Lớn do Hoa Kiều lập nên. Thời vua Tự Đức, 1850, sông Bến Nghé được liệt vào hạng sông lớn, nổi tiếng của đất nước, được đưa vào trong từ điển. Hàng năm triều đình cử quan viên đến tế thần sông. Sông Sài Gòn là con sông có lưu lượng tàu thuyền lưu thông lớn nhất nước ta hiện nay.
![]() |
|
Cao Đỉnh. |
Kênh Vĩnh Tế là công trình thủy lợi do chính Thoại Ngọc Hầu thiết kế và tự thân vợ chồng đốc thúc 80.000 dân binh làm việc ngày đêm. Qua 5 năm (1820-1824) kênh đào hoàn thành. Con kênh này đem lại lợi ích cho vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc. Khi kênh đào xong, vua Minh Mạng hoan hỉ lắm, sai dựng bia bên bờ sông để ghi sự tích. Kênh Vĩnh Tế lúc mới đào rộng 15 tầm, sâu 6 thước, dài 200 dặm.
Kênh này hiện nhiều đoạn được nới rộng, sâu và dài hơn xưa, chảy từ Châu Đốc, Tri Tôn, tỉnh An Giang, tới Kiên Lương gặp sông Giang Thành chảy tới của Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, cách biên giới 3 cây số. Dưới chân núi Thoại Sơn, nhân dân đã lập đền thờ ông bà Thoại Ngọc Hầu, bốn mùa hương khói tri ân.
Cần Giờ Hải Khẩu (cửa biển Cần Giờ), còn gọi là cửa Ô Cấp được khắc trên Thuần Đỉnh. Cửa rộng 5 dặm, buổi sáng nước sâu 5 trượng 5 thước. Cảng khẩu sâu rộng nên rất thuận tiện cho tàu bè ra vào. Là một cảng thương mại lớn nằm sát nách Trung tâm phố thị Gia Định xưa. Do tính chất quan trọng của cửa biển này, năm Triệu Trị thứ 2, triều đình cho xây thành, đắp lũy bảo vệ, canh gác. Cửa biển Cần Giờ có vị trí chiến lược kinh tế, quốc phòng và lịch sử phong phú của vùng đất Nam Bộ trong buổi đầu mở cõi.
Hậu Giang - Tiền Giang, là hai con sông chính chảy qua nhiều tỉnh, bồi đắp phù sa cho cả đồng bằng Nam Bộ. Sông Hậu - Sông Tiền đều bắt nguồn từ sông Mê Công, đoạn rẽ dòng ở gần Thủ đô Pnôm Pênh. Sông Hậu chảy vào nước ta qua xã Khánh An, An Phú, tỉnh An Giang. Từ đây sông chảy qua Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Đến đoạn ngang Phụng Tường, sông chia làm 2 nhánh: Một nhánh dọc theo địa giới Trà Vinh, đổ ra cửa Định An; một nhánh chảy qua huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, đổ ra cửa Trần Đề.
Sông Tiền vào Việt Nam tại địa giới huyện Tân Châu, tỉnh An Giang và huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, đến hết huyện Tân Châu thì rẽ ngoặt sang trái, đi sâu vào địa bàn Đồng Tháp, xuống Cái Bè, Tiền Giang. Từ đây sông Tiền chia làm 2 nhánh: Nhánh phải là sông Cổ Chiên là biên giới Bến Tre và Vĩnh Long, ra biển. Nhánh trái chảy trên ranh giới tỉnh Tiền Giang, thêm một đoạn nữa lại chia làm hai: nhánh phải là sông Hàm Luông chảy vào giữa địa phận Bến Tre; nhánh trái chảy xuống huyện Chợ Gạo, Tiền Giang, gặp cù lao Tấu, nhánh sông này chia đôi dòng đổ ra biển qua Cửa Tiểu và Cửa Đại.
Như vậy từ sông Tiền, sông Hậu khi chảy vào nước ta đã tạo thành 9 dòng sông gọi là Cửu Long Giang. Từ những cửa sông này, mỗi năm đất liền lại được bồi thêm phù sa, lấn ra biển hàng trăm mét vuông. Năm 1836, vua Minh Mạng cho chạm hình tượng cửa sông Hậu, cửa sông Tiền thành một hình ảnh chung trên Huyền Đỉnh.
NGÔ MINH