Điều trị sỏi niệu theo y học cổ truyền

Mã đề, Xa tiền thảo.

Sỏi tiết niệu được mô tả trong chứng Thạch lâm (tiểu ra sỏi ), của Y học cổ truyền (YHCT). Trên lâm sàng, theo YHCT, để điều trị Thạch lâm thường chia làm 3 thể đó là: thấp nhiệt, khí huyết ứ trệ và thận hư.

1. Thể thấp nhiệt: với các triệu chứng như đau vùng thắt lưng lan xuống đùi và bộ phận sinh dục ngoài. Tiểu vàng xẻn hoặc đỏ đục, cảm giác nóng rát khi đi tiểu, tiểu nhiều lần, có thể tiểu ra sỏi. Ớn lạnh hoặc sốt nhẹ, miệng khô, khát. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác (nhanh). Phép trị: Thanh nhiệt bài thạch, trừ thấp lợi niệu. Có thể dùng một trong các bài thuốc sau:

+ Bài 1: Xích đạo tán gia vị, gồm các vị sau: Sinh địa 12g, Kim tiền thảo 20g, Trúc diệp 16g, Mộc thông 16g, Xa tiền tử 10g, Kê nội kim 10g, Cam thảo 10g. Sắc uống ngày 01 thang.

+ Bài 2: Tam kim hồ đào thang, gồm các vị: Kim tiền thảo 30g, Xa tiền thảo 12g, Hoạt thạch 15g, Sinh địa 15g, Thiên môn 12g, Ngưu tất 15g, Mộc thông 10g, Cam thảo 10g, Kê nội kim 6g (Tán bột, chia làm 2 lần uống với nước thuốc sắc), Nhân hồ đào 4 hột (chia 2 lần nuốt). Các vị còn lại sắc uống ngày 01thang.

+ Bài 3: Bát chính tán gia vị, gồm có: Xa tiền tử 12g, Cù mạch 12g, Biển súc 12g, Hoạt thạch 16g, Chi tử 8g, Cam thảo 8g, Mộc thông 12g, Kim tiền thảo 20g, Kê nội kim 8g, Đại hoàng 6g. Sắc uống ngày 01 thang.

2. Thể khí huyết ứ trệ: Người bệnh có các triệu chứng như khi đi tiểu thấy đau tức và nặng trước âm nang, tiểu tiện máu đỏ tươi, đi tiểu không hết. Nước tiểu vừa có máu vừa đục. Lưỡi có điểm ứ huyết, mạch khẩn. Phép trị: lý khí hành trệ, thông lâm bài thạch. Có thể dùng một trong các bài thuốc sau:

+ Bài 1: Huyết phủ trục ứ thang gia vị: Đương quy 12g, Sinh địa 8g, Đào nhân 8g, Hồng hoa 8g, Chỉ xác 8g, Xích thược 8g, Sài hồ 8g, Xuyên khung 8g, Ngưu tất 12g, Kim tiền thảo 20g, Cỏ mực 20g. Sắc uống ngày 01 thang.

+ Bài 2: Đào nhân 8g, Uất kim 8g, Ngưu tất 12g, Chỉ xác 8g, Kim tiền thảo 20g, Xa tiền tử 12g, Kê nội kim (sao cát) 8g, Ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 01 thang.

3. Thể Thận hư: với các triệu chứng như tiểu ít, đục, có mủ, đau âm ỉ và sốt kéo dài. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như người mệt mỏi, bụng trướng hoặc phù thủng, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhợt bệu, rêu trắng dính, mạch tế sác vô lực. Phép trị: Bổ thận, lợi niệu, thông lâm. Có thể dùng phương thuốc tế sinh thận khí hoàn gia vị, gồm các vị: Phụ tử chế 4g, Thục địa 32g, Hoài sơn 16g, Sơn thù 16g, Đơn bì 12g, Trạch tả 12g, Bạch linh 12g, Nhục quế 4g, Kim tiền thảo 20g, Xa tiền tử 12g. Sắc uống ngày 01 thang.

Người bệnh cũng có thể dùng một số bài thuốc theo kinh nghiệm như sau:

+ Bài 1: Sỏi tiết niệu thang (Thuốc nam châm cứu viện đông y ): Rau má 20g, Rau sam 20g, Thài lài tía 20g, Cam thảo đất 30g, Râu bắp 30g, Lá tre 30g. Sắc với 800ml nước còn 400ml chia làm 3-4 lần uống trong ngày.

+ Bài 2: Kim tiền thảo, Râu bắp mỗi thứ 30g, sắc uống thay nước hàng ngày.

+ Bài 3: Ngũ lâm tán, gồm các vị: Xích linh 240g, Đương quy 200g, Cam thảo 200g, Xích thược 120g, Chi tử 120g. Tất cả tán mịn, uống ngày 2 lần, mỗi lần 8g trước bữa ăn.

+ Bài 4: Bài thuốc của Lương y Trần Văn Thà (đăng trên tạp chí Thuốc và sức khỏe số 345, ngày 1-12-2007): Hoa đu đủ đực tươi 300g, cắt đoạn ngắn 3cm (khô 150g). Sao vàng hạ thổ. Đổ 800ml nước sắc còn 200ml uống thuốc khi còn ấm, uống sau khi ăn sáng. Theo Lương y Thà, hiệu quả điều trị rất cao. Sỏi từ 1-7mm: uống 1-2 lần ra hết. Sỏi từ 8-10mm: uống 4-5 lần ra hết. Sỏi từ 1-15mm: uống 7-10 lần ra hết. Nếu sỏi thận quá to, nên mổ hoặc tán sỏi, rồi hãy uống 1-2 lần để chống tái phát.

Ngoài các bài thuốc trên, hiện nay trong nhân dân thường dùng hạt chuối hột hoặc rau Ngò ôm hay dùng phèn nướng với trái Khóm sau đó vắt nước uống đều được. Tuy nhiên, dù dùng thuốc Tân dược hay Đông dược, quý bạn nên theo dõi qua siêu âm hàng tháng để được đánh giá hiệu quả trong quá trình điều trị. Điều quan trọng cần lưu ý đối với người bị sỏi niệu là nên uống nhiều nước (trên 2 lít nước/ ngày) và đi bộ trên 30 phút mỗi ngày để phòng bệnh, ngăn ngừa bệnh tái phát.

Bác sĩ VŨ ĐÌNH QUỲNH,

Bệnh viện Y học cổ truyền TP Cần Thơ