![]() |
|
Tiêm ngừa viêm gan siêu vi B tại Trung tâm Y tế dự phòng TP Cần Thơ. Ảnh: LỆ THU |
Theo thống kê 3 tháng đầu năm 2008, Khoa nhiễm, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã tiếp nhận trên 200 lượt bệnh nhân đến khám bệnh viêm gan ; trong đó, có viêm gan siêu vi B. Điều đó cho thấy, viêm gan ngày càng một gia tăng và ai cũng có khả năng mắc bệnh. Để tránh được bệnh viêm gan siêu vi B, tiêm chủng là biện pháp phòng ngừa rất có hiệu quả. Bài viết của bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Tâm, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về căn bệnh này.
Viêm gan siêu vi B là bệnh nhiễm trùng toàn thân do siêu vi có ái tính với tế bào gan gây viêm nhiễm và hoại tử tế bào gan. Viêm gan siêu vi B lây truyền chủ yếu qua 3 đường: đường máu (bao gồm tiêm chích chung kim tiêm, truyền máu...); từ mẹ mang thai truyền sang con; lây truyền qua đường tình dục không an toàn. Ngoài ra 2/3 trường hợp không tìm thấy đường lây truyền. Người mẹ mang thai nhiễm viêm gan siêu vi B có khả năng lây truyền bệnh sang con với tỷ lệ khá cao.
Khi nghi ngờ mắc viêm gan siêu vi B, người bệnh cần làm các xét nghiệm sau :
+ Men gan: chỉ số AST (SGOT) và ALT (SGPT) tăng tối thiểu gấp 2 lần trị số cao nhất của giới hạn bình thường. Thông thường, trong viêm gan siêu vi B cấp, AST và ALT tăng từ 5-10 lần, có khi trên 20 lần trị số cao nhất của giới hạn bình thường.
+ Dựa vào xét nghiệm huyết thanh, được thực hiện lần lượt như sau:
IgM anti-HBc và HbsAg: IgM anti-HBc (+): Viêm gan siêu vi B cấp HBsAg (+) đơn thuần: không kết luận được viêm gan siêu vi B (có thể là người lành mang mầm bệnh, cũng có thể là viêm gan siêu vi B cấp hoặc mãn), phải theo dõi men gan phối hợp.
Nồng độ AND HBV cao: biểu hiện nồng độ siêu vi B tăng, viêm và hoại tử tế bào gan nhiều hơn.
Thông thường, viêm gan siêu vi B, thể không triệu chứng nhiều gấp 10 đến 30 lần so với thể có triệu chứng. Viêm gan siêu vi B cấp biểu hiện qua các thời kỳ:
+ Thời kỳ ủ bệnh: tính từ khi tiếp xúc với mầm bệnh đến khi có biểu hiện bệnh, từ 30 đến 180 ngày, trung bình 4 đến 12 tuần.
+ Thời kỳ khởi phát: nguời bệnh thấy mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đau nhức cơ - khớp, sốt nhẹ.
+ Thời kỳ toàn phát: các biểu hiện rõ ràng như tiểu vàng sâm, tiểu ít, vàng da, vàng mắt. Gan to, đau hạ sườn phải, ăn kém, khó tiêu, hết sốt.
+ Thời kỳ hồi phục: các triệu chứng trên giảm dần. Vàng da, vàng mắt kéo dài 2-12 tuần.
Trong các biến chứng của viêm gan siêu vi B cấp, dạng viêm gan tối cấp chiếm khoảng 1%. Người bệnh bị rối loạn ý thức, gan teo nhỏ, chức năng gan giảm, xuất huyết nhiều nơi, trụy tim mạch, suy thận, suy hô hấp. Trên 80% bệnh nhân viêm gan tối cấp tử vong.
Khi phát hiện mắc viêm gan siêu vi B, người bệnh cần lưu ý một số vấn đề trong ăn uống, điều trị như sau:
- Người mắc viêm gan siêu vi B cần lưu ý đến chế độ ăn uống. Khẩu phần ăn nên có nhiều đạm, nhiều đường, ít mỡ. Người bệnh nên ăn nhiều lần, mỗi lần một ít, nếu cần, đổi bữa ăn chính vào lúc sáng và trưa, chiều tối nên ăn nhẹ và không nên kiêng ăn thái quá. Đặc biệt, người bệnh không nên uống rượu, bia.
- Khi sử dụng các loại thuốc, người bệnh cần hạn chế các loại thuốc gây bất lợi cho gan: Không dùng corticoid, cẩn thận khi sử dụng phenobarbital, thuốc kháng lao, kháng sinh nhóm cyclin...,
- Người mắc bệnh không cần thiết phải nghỉ ngơi hoàn toàn tại giường nhưng tránh làm việc nặng, gắng sức, dễ làm cho bệnh diễn biến phức tạp và kéo dài. Thời gian nghỉ ngơi nên kéo dài cho đến khi hết vàng da - mắt, và men gan dưới 2 lần so với trị số cao nhất của giới hạn bình thường. Không nên lao động nặng ít nhất là 3 tháng kể từ khi hết giai đoạn nghỉ ngơi.
- Người bệnh cần xét nghiệm AST và ALT hàng tuần cho đến khi chỉ số AST và ALTV dưới 2 lần so với trị số cao nhất của giới hạn bình thường. Sau đó xét nghiệm mỗi tháng một lần, ít nhất trong 6 tháng để phát hiện kịp thời viêm gan siêu vi B mãn tính để có hướng điều trị sớm với các loại thuốc Intetferone, hay lamivudin hoặc các thuốc kháng virus khác theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa, giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan.
Ngoài cách chăm sóc, ăn uống và nghỉ ngơi như vừa nêu thì với các trường hợp viêm gan siêu vi B cấp có thể sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thảo dược như silymarin, biphenyl dimethyl dicarboxylat (từ chiết xuất schizandrin của ngũ vị tử) không gây độc và giảm men gan.
Cần lưu ý, khoảng 95%-99% trường hợp viêm gan siêu vi B cấp có diễn biến tốt. Chỉ khoảng 1% bệnh nhân viêm gan siêu vi B cấp có nguy cơ tử vong, diễn tiến sang mãn tính. HBsAg (+) trên 6 tháng, men gan tăng gấp 2 lần so với chỉ số bình thường là biểu hiện của viêm gan siêu vi B mãn tính.
Hiện nay, viêm gan siêu vi B ngày càng gia tăng, mọi người đều có khả năng mắc bệnh, nhất là viêm gan siêu vi B cấp dễ gây nguy cơ tử vong nếu biến chứng viêm gan tối cấp. Để tránh được bệnh viêm gan siêu vi B, tiêm chủng là biện pháp phòng ngừa rất có hiệu quả. Hiện nay, đã có thuốc tiêm ngừa viêm gan siêu vi B cho những người trước khi có tiếp xúc với mầm bệnh siêu vi B và thuốc phòng ngừa sau khi đã tiếp xúc với mầm bệnh. Liều lượng và lịch tiêm chủng cụ thể dựa vào loại thuốc có tại các trung tâm y tế dự phòng địa phương.
BS Nguyễn Thị Thanh Tâm
(BV Đa khoa Trung ương Cần Thơ)