Cấp đổi giấy phép karaoke: Nhiêu khe mà lại hở!

UBND TP Cần Thơ đã thông qua quy hoạch karaoke - vũ trường từ cuối tháng 12-2007 (Quyết định số 2970/QĐ-UBND). Theo đó, đến năm 2010, số cơ sở kinh doanh karaoke trên địa bàn TP Cần Thơ là 251 cơ sở, trong số này có 86 cơ sở đã tồn tại trước đây hội đủ điều kiện đổi giấy phép, còn lại 165 cơ sở theo quy hoạch được cấp giấy phép mới. Số vũ trường trên địa bàn thành phố đến năm 2010 là 13, trong đó số vũ trường cũ đủ điều kiện đổi giấy phép là 2, còn lại 11 cơ sở sẽ được cấp giấy phép mới theo quy hoạch. UBND thành phố còn yêu cầu UBND quận, huyện căn cứ vào Quyết định số 2970/QĐ-UBND để tiến hành điều chỉnh nội dung quy hoạch các cơ sở kinh doanh karaoke, vũ trường trên địa bàn sao cho phù hợp với quy định chung của thành phố.

Kể từ khi có quyết định thông qua quy hoạch karaoke-vũ trường, đến nay đã gần 17 tháng, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch TP Cần Thơ chỉ mới tiến hành thẩm định và đổi giấy phép kinh doanh karaoke cho 75 cơ sở đủ điều kiện. Số còn lại việc cấp đổi giấy phép vẫn hết sức khó khăn. Vì sao, nói như ông Mai Văn Bé, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch TP Cần Thơ, hiện nay chủ yếu là tiến hành thẩm định và đổi giấy phép cho những cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke đáp ứng được các điều kiện theo “Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng” ban hành kèm theo Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18-1-2006 và Thông tư số 69/2006/TT-VHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ngày 28-8-2006 hướng dẫn thi hành Nghị định số 11/2006/NĐ-CP. Cũng theo ông Mai Văn Bé, trong các điều kiện quy định tại Nghị định số 11/2006 thì có 2 điều kiện ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cơ sở karaoke và rất nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke “vướng” vào các điều khoản này nên không thể được cấp phép hoạt động. Đó là: “Địa điểm hoạt động karaoke phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa, cơ quan hành chính nhà nước từ 200m trở lên” (khoản 1, Điều 38) và “Địa điểm hoạt động karaoke trong khu dân cư phải được sự đồng ý bằng văn bản của các hộ liền kề” (khoản 5, Điều 38).

Bên cạnh đó, một số cơ sở chưa được cấp đổi giấy phép vì địa điểm không đáp ứng các điều kiện theo quy định vẫn hoạt động theo kiểu còn ngày nào hay ngày đó.

Một chủ cơ sở karaoke ở phường Xuân Khánh cho biết: “Tôi từng 3 lần chuyển điểm kinh doanh vì cơ sở nằm trong khu dân cư, bị người dân phản ứng. Dù đã đầu tư số vốn gần 100 triệu đồng mua trang thiết bị, thiết kế phòng hát cách âm... nhưng buộc phải ngừng kinh doanh và chuyển địa điểm mới. Rất may là vị trí mới đáp ứng được các điều kiện theo quy định của Nhà nước”. Theo báo cáo của Thanh tra Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch TP Cần Thơ cho biết số cơ sở kinh doanh karaoke không phép đang có chiều hướng gia tăng. Chỉ riêng đợt kiểm tra theo Quyết định số 204/QĐ-SVHTTDL ngày 20-11-2008 (Đoàn Kiểm tra hoàn tất báo cáo đầu tháng 3-2009-PV), qua kiểm tra 79 cơ sở kinh doanh karaoke, có đến 66 cơ sở vi phạm, với các lỗi: tắt đèn tại phòng karaoke khi hoạt động, sử dụng nhân viên không có hợp đồng lao động, phòng không đủ diện tích, kinh doanh karaoke không có giấy phép...

Bên cạnh đó, gần 4 năm nay, TP Cần Thơ nói riêng và các tỉnh, thành phố còn lại trong cả nước nói chung đều không cấp mới Giấy phép kinh doanh karaoke. Lý do là Chỉ thị số 17/2005/CT-TTg ngày 25-5-2005 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh các hoạt động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường, trong đó quy định tạm ngừng việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường; tạm ngừng cấp mới Giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, một nghịch lý là các cơ sở lưu trú du lịch (khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch) kinh doanh karaoke không phải xin Giấy phép kinh doanh (khoản 3 Điều 66 Luật Du lịch ngày 14-6-2005), mà chỉ cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện tại các khoản 1,2,3, 4 và 6 Điều 38 của “Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng” ban hành kèm theo Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18-1-2006. Điều này tạo sự thiếu công bằng đối với những người kinh doanh ngành nghề karaoke - một ngành nghề hạn chế kinh doanh theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006 về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện. Dư luận cho rằng, tệ nạn xã hội vẫn có thể xảy ra ở dịch vụ karaoke của các cơ sở lưu trú du lịch, chứ đâu riêng gì các dịch vụ bên ngoài.

Bởi vậy, trong dự thảo (lần 2 hồi trung tuần tháng 4-2009) Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 11/2006/NĐ-CP ngày 18-1-2006 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho rằng: “Thực tế sau gần 4 năm tạm ngừng cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường để chấn chỉnh tiêu cực, thì tiêu cực đã được ngăn chặn và đẩy lùi, hiệu lực quản lý nhà nước được tăng cường. Hiện có 48/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã hoàn tất phê duyệt quy hoạch karaoke. Nhiều địa phương đã đề nghị được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy phép kinh doanh karaoke, vũ trường theo quy hoạch đã được phê duyệt để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân ở cơ sở và một phần nhu cầu của khách du lịch”.

Với TP Cần Thơ, qua đợt kiểm tra 79 cơ sở kinh doanh karaoke trên địa bàn đã có báo cáo kiến nghị Giám đốc Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch TP Cần Thơ đề đạt Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xem xét việc tiếp tục cấp phép một số cơ sở kinh doanh karaoke ở các quận huyện còn thiếu; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ Chị thị 17/2005/CT-TTg vì chỉ cần áp dụng Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006, đồng thời thực hiện theo quy hoạch karaoke, vũ trường của địa phương cũng hạn chế được hoạt động kinh doanh này. Có như thế mới khắc phục tình trạng tiêu cực, móc ngoặc để sang nhượng, đứng tên ảo, bán lại giấy phép kinh doanh karaoke như vừa qua.

PHƯƠNG TỬ NGHI